Sinh ra và lớn lên ở vùng Nam Bộ, 14 tuổi đã tham gia Cách Mạng, 20 tuổi vượt Trường Sơn ra Bắc chỉ mong được đi học. Năm 1975, trở về miền Nam học ngành Dược chuyên tu. Từ Cử nhân Kinh tế học lên Thạc sĩ rồi Tiến sĩ, rồi được bổ nhiệm về làm Giám đốc Cty Cung Ứng Vật tư Y tế Cần Thơ. Đang xuôi chèo mát mái thì phải nhận lãnh trách nhiệm về lèo lái con thuyền “Dược Hậu Giang” đang bên bờ phá sản. Và chị đã đưa Dược Hậu Giang trở thành thương hiệu mạnh. Nữ doanh nhân đó là Tiến sĩ - Dược sĩ Phạm Thị Việt Nga - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang.

 

Cuộc đời gắn liền với những chuyến đi

Năm 1988, khi mới bắt đầu nhậm chức giám đốc Xí nghiệp Dược Hậu Giang, chị phải đương đầu với rất nhiều khó khăn: nhân sự không có, tình hình tài chính chỉ là con số không, sản phẩm bán ra thị trường không ai mua. Cái khó nhất của chị lúc bấy giờ là “không biết quản lý một đơn vị kinh tế như thế nào”. Nhưng không biết thì phải học, làm quản lý mà không có tri thức thì nói không ai nghe cho nên chị đã trãi lòng ra để sống, để học và để “chiếm lĩnh thị trường nội địa” nếu không muốn thua ngay trên sân nhà.

 

Để vực dậy xí nghiệp, chị bắt đầu bằng việc thành lập đội xung kích lên Mộc Hóa trồng tràm, lên Phước Long – Sông Bé trồng tiêu, trồng điều nhưng kết quả cũng không thành công. Không có tiền trả lương cho anh em, chị ngậm ngùi tinh giảm biên chế sau khi rút ra bài học kinh nghiệm “đừng thấy người ta ăn khoai mình cũng vác mai đi đào”. Suy nghĩ cách này, cách nọ vẫn chưa xong, chị quay sang làm kiều hối cho bà con khu vực ĐBSCL. Từ số tiền ít ỏi này, chị bắt đầu mua sắm trang thiết bị sản xuất thuốc, đồng thời mở rộng thị trường ra Bắc, tham gia quảng bá sản phẩm tại hội chợ.

 

Đó là vào những năm 1992, khi thị trường thuốc tây còn chưa ồn ào như bây giờ. Trong khi sản phẩm của các cơ quan bạn thì bán không kịp, còn thuốc của mình thì chẳng có người mua. Không nản lòng, chị lại tiếp tục công tác tiếp thị từ Bắc vào Nam, dẫu ai gọi ít hay nhiều chị cũng đi và khuyến khích nhân viên giao hàng với thái độ chân thành, cởi mở. Với phương châm “biết chờ đợi cũng là cách để đến nơi”, nhiều lần chị cùng các nhân viên ra từng hiệu thuốc, chờ họ rãnh để tiếp thị sản phẩm của mình.

 

Ròng rã nhiều tháng trời như thế vẫn chưa thành công, chị lại quay sang cách khác. Những lần đến Buôn Ma Thuột và các buôn làng xa xôi hẻo lánh vào những dịp năm hết, tết đến, chị nhận ra rằng ở những vùng này rất thiếu thuốc do trình độ văn trí có hạn và đường sá đi lại khó khăn, việc ra trạm y tế mua thuốc là việc làm được xem như rất… xa xỉ. Chính vì vậy, chị đã đưa thuốc đến tận từng nhà, bắt đầu chỉ từ một chai thuốc đỏ rồi tới thuốc cảm, thuốc đau bụng, ăn không tiêu… Chấp nhận chịu lỗ để người ta biết đến thương hiệu của mình.

 

Rồi từ đó, với tinh thần người lính, chị đã không ngừng đổi mới tư duy, trang thiết bị, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để cán bộ công nhân viên phát huy được tài năng của mình. Nhờ thế trong vòng 10 năm, từ 25 mặt hàng được đăng ký ban đầu, đến nay, Dược Hậu Giang đã có 173 sản phẩm đăng ký lưu hành toàn quốc với giá trị tổng sản lượng tăng nhanh hàng năm.
Bước đột phá sau khi cổ phần hóa

 

Năm 2004, Xí nghiệp Dược Hậu Giang chính thức trở thành Công ty Cổ phần và chị được anh em tín nhiệm tiếp tục giữ vai trò Tổng Giám đốc công ty. Chị đã đưa Dược Hậu Giang xếp vào loại “top ten” của ngành công nghiệp Dược Việt Nam với doanh số trên 500 tỷ đồng/năm. Hệ thống phân phối trãi dài từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau với tổng cộng 34 chi nhánh, gần 8.000 đại lý tiêu thụ sản phẩm và hàng triệu khách hàng. Sản phẩm đã có mặt 98% trong các bệnh viện khắp nước, đáp ứng 100% nhu cầu các loại thuốc cảm và vitamin, 80% nhu cầu thuốc kháng sinh trên thị trường nội địa. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của công ty đạt gần 500.000USD, chủ yếu xuất sang LàoUkraine, Mông Cổ, Hàn Quốc, Campuchia. Không chỉ được người tiêu dùng tín nhiệm, 9 năm liền bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao, Dược Hậu Giang còn vinh dự đứng vào danh sách 100 thương hiệu mạnh.

 

Giờ đây, nhớ lại những ngày đầu gian nan ấy, chị cho biết đã hơn một lần viết đơn xin từ chức nhưng không được cấp trên đồng ý nên đành thôi. Điều trăn trở hiên nay của chị là làm sao để người Việt Nam tin tưởng, sử dụng sản phẩm của mình. Bởi vì hiện nay vẫn còn vài bộ phận còn tâm lý sính thuốc ngoại. Theo chị, điều quan trọng trong điều trị là sử dụng đúng thuốc để trị bệnh chứ không phải cứ dùng thuốc ngoại mới khỏi. Thực tế cho thấy, trong hệ thống bệnh viện hiện nay, rất nhiều nơi sử dụng thuốc nội để điều trị cho bệnh nhân và đem lại kết quả tốt. Trong khi thuốc nội chỉ rẻ bằng 1/5 giá thuốc ngoại thì tại sao chúng ta không dùng?

 

Thực tế đáng buồn là trong khi công ty nhập khẩu đua nhau tăng giá thuốc, làm tăng thêm gánh nặng cho bệnh nhân nghèo thì các nhà sản xuất thuốc nội phải ngồi lại bàn bạc với nhau xem làm sao giảm giá thuốc để có thể tồn tại để phát triển, khẳng định thương hiệu, trong khi chất lượng lại không thua kém gì hàng ngoại. Ví dụ thuốc kháng sinh thế hệ mới dạng đặc trị mang tên Haginat (diệt khuẩn) và Klamentin (kháng khuẩn) với nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Châu Âu, sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế đang được tiêu thụ rất mạnh. Điều đó chứng tỏ nếu chúng ta biết cách quảng bá sản phẩm cộng với chất lượng mặt hàng ổn định, giá cả cạnh tranh thì lo gì không có thị trường. 



 Hải An (Pháp Luật Việt Nam cuối tuần số ra ngày Chủ nhật 05-03-2006)